Trâm 4: Chim Liền Cánh

Chương 24: Ngoại truyện: Nguyên Tiêu



Hoa vàng cây ngọc, người sum họp, trăng tròn vành. Đêm mười lăm tháng Giêng, nhà nhà thắp đèn. Tuy trời đổ tuyết lất phất, nhưng khắp phố lớn, ngõ nhỏ trong thành Dương Châu vẫn treo đủ các loại đèn. Trước cửa nhà giàu sang còn dựng cổng chào, bên trong bày đèn ca múa. 

Văn Thiều Uyển Dương Châu là kỹ viện ca múa nổi danh nhất Giang Nam. Dưới bóng trăng, trước hoa đèn, một tốp thiếu nữ đang múa hát. Người dừng chân đứng xem đông như kiến, trăng lên đến giữa trời mà tiếng tơ trúc vẫn réo rắt không nghỉ, người xem chen lấn, xô đẩy nhau. Riêng mẹ con nhà nọ không chen vào giữa đám đông, mà tìm một gò đất cao cách đó không xa đứng xem. 

Người mẹ chưa đầy ba mươi tuổi, vận áo biếc, mặt mũi thanh tú, mắt sáng long lanh; bé trai bảy tám tuổi bên cạnh mặc áo gấm thiên thanh, tay xách một cây đèn tiên ông cưỡi phượng, ánh đèn hắt lên đôi má bé bỏng đỏ hồng, mặt mày như vẽ.

Nữ tử áo xanh mỉm cười xem ca múa, nhưng đứa bé trai lại chẳng có hứng thú, chán nản nghịch chiếc đèn trong tay: “Mẹ ơi, sao cha vẫn chưa tìm thấy kẹo hạnh nhân của con? Mình đi tìm cha đi.” 

Người mẹ dịu dàng dỗ con, giọng nhẹ nhàng: “Huyền Trạm đợi thêm lát nữa, màn ca múa này khiến mẹ nhớ đến mấy cố nhân nhiều năm trước.”

Bé trai chẳng buồn ngẩng lên: ” Cố nhân gì chứ, không phải hung thủ giết người thì là nạn nhân bị giết, cha mẹ có người bạn nào còn sống sao?”

Người mẹ phì cười, giơ tay vò tóc con: “Nói bậy! Còn Chu thúc thúc và Vương thúc thúc mà? Cha mẹ chẳng phải vẫn đưa con tới chơi với đám trẻ nhà họ à?”

“Thôi đi, Chu Tiểu Tịch cả ngày ôm đầu lâu chạy lăng xăng với Vương Khải Dương ngựa còn chưa leo lên nổi đã vọng tưởng làm đại tướng quân ấy à?” Huyền Trạm tỏ vẻ khinh bỉ: “Hai thằng nhãi khóc nhè.”

“Lúc nhỏ con còn hay khóc nhè hơn.” Mẹ thản nhiên châm chọc cậu.

Huyền Trạm ngẩng lên, ấm ức định cãi, nhưng lại trông thấy một bóng người tha thẩn đi đến gần bọn họ như tìm kiếm ai. Là một cô gái chừng hai mươi tuổi, cũng có nhan sắc, tiếc rằng chỉ mặc áo xanh đơn giản, tóc vấn chặt thành một búi, không cài trang sức, cả người trông rất nhạt nhòa. 

Thấy cô ta cắm cúi đi đến trước mặt, nữ tử áo lụa biếc liền hỏi: “Nương tử đang tìm cái gì ư?”

Cô gái kia không hề ngẩng lên, chỉ nhíu mày đáp: ” Vâng, trâm vàng của tôi rơi mất rồi.”

Với dân thường, trâm vàng rất quý giá, lỡ đánh rơi hẳn là to chuyện. Huyền Trạm vội giơ cao cây đèn tiên ông cưỡi phượng trong tay lên, vẻ nhiệt tình: “Tuyết đọng đầy đường, e là khó tìm, để cháu soi cho.” 

” Ôi, đa tạ, đa tạ”. Nữ tử nọ cuối cùng cũng ngẩng lên, thấy hai mẹ con trước mặt tao nhã hơn người, không giống dân thường, vội vàng hành lễ với họ rồi nói: “Vừa nãy tôi và phu quân ở phía trước thả đèn, thoáng thấy trên đầu hơi động, quay ra thì trâm đã mất. Phu quân cũng vô tâm, bắt tôi một mình lần tìm dọc đường về nhà, kết quả về đến nhà vẫn chưa thấy…” Vừa nói, cô ta vừa cùng Huyền Trạm đi đến gốc liễu phía trước gò đất nhỏ.

Nữ tử áo lụa biếc đứng trên gò đất quan sát họ. Ngọn đèn của Huyền Trạm tạo thành một vòng sáng dưới đất, hai người đi đến gốc cây, cô gái kia thường ngồi thụp xuống tìm kiếm, ngay sau đó, một tiếng thét thê thảm vang lên.

Huyền Trạm giơ cao đèn soi vào bóng người nằm dưới gốc cây, rồi quay lại gọi to: “Mẹ ơi, ở đây có người chết!”

Các bổ khoái đi tuần đêm Nguyên tiêu rất đông, vừa khéo có một tốp gần đó, nghe tiếng vội chạy đến. Kẻ ngăn đám đông chỉ chực xúm lại xem cách xa mười bước, kẻ kiểm tra người đàn ông nằm dưới đất, cũng có kẻ cầm sổ sách chạy đến hỏi cô gái kia: “Chàng ấy là Lưu Thành, phu quân của tôi, tôi họ Ngụy, người nhà gọi là Hâm nương…” Cô gái khóc đến hụt hơi, gần như quay mặt đi, “Chẳng lẽ là thợ thủ công, chuyên đánh trang sức, năm ngoái chúng tôi chạy nạn đến Dương Châu, ở cạnh giếng cây hòe. Hôm nay vợ chồng ra ngoài thả đèn, trâm vàng của tôi vô tình rơi mất, tôi phải vòng về tìm, nào ngờ tìm suốt dọc đường về tận nhà cũng không thấy. Tôi lại vòng lại tìm…”

Huyền Trạm xách đèn nép vào bên mẹ, nghe Hâm nương trình bày, lại nhìn các bổ khoái kiểm tra thi thể nam kia. Thi thể là một người đàn ông hai bảy hai tám tuổi, cổ họng bị cắt, máu bắn ra đã bị mưa tuyết lắc rắc che lấp, nằm nghiêng trên mặt tuyết, thân hình cũng phủ một lớp tuyết mỏng, tay nắm chặt một cây trâm vàng.

Trâm vàng được làm theo kiểu dáng từ năm sáu năm trước, bấy giờ rất thịnh hành khắc tên khuê danh nữ tử lên trâm. Chữ khắc phỏng theo thể triện mai hoa, nhìn thì tao nhã, nhưng thợ bạc có vẻ không thạo thể này cho lắm, nét khắc vụng về chỉ miễn cưỡng coi như viết đúng mà thôi. Có điều bộ âm bên trái chữ “Hâm” được khắc gần giống hình tỳ bà, rõ ràng đã tốn không ít tâm tư. 

Huyền Trạm ghé tai mẹ nói thầm: ” Là chữ “Vận” mẹ ạ.” 

Người mẹ gật đầu: ” Chữ “Vận” và “Hâm” viết bằng thể triện rất giống nhau.”

Một bổ khoái trỏ cây trâm trong tay tử thi, hỏi Hàm nương: “Ngươi muốn tìm cây trâm này sao?”

Hâm nương bưng mặt, nước mắt chảy dài theo kẽ tay: ” Vâng… Chính là cây trâm này. Rõ ràng đã đánh rơi, tìm khắp nơi không thấy, sao lại ở trong tay chàng được…”

Bổ đầu ngẫm nghĩ giây lát, quan sát dấu vết trên tuyết rồi lại nhìn cây trâm trong tay người chết, kết luận: “Chắc chắn là ngươi giết phu quân.”

Hâm nương nghe vậy thì nhũn người ngã phịch xuống đất, lắc đầu quầy quậy, run rẩy biện minh: “Tôi, không phải tôi giết A Thành mà! Chúng tôi thành thân nhiều năm nay, lúc nào cũng thắm thiết…”

Bổ đầu bực dọc cắt lời cô ta: “Vừa rồi lúc chúng ta đến đã thấy rõ rồi. Bấy giờ trên mặt tuyết chỉ có bốn hàng dấu chân, một đi một đến chính là dấu chân của ngươi; hai hàng còn lại đi đến dưới gốc cây, hàng lớn đã bị tuyết lấp một nửa, là của phu quân ngươi, còn hàng nhỏ là của đứa bé này. Tuyết rơi hai canh giờ rồi mà thi thể phu quân ngươi còn ấm, cũng tức là hắn ta mới chết, trừ ba người các ngươi, làm gì có ai đi đến dưới gốc cây. Đứa bé này vừa theo ngươi đến, dĩ nhiên không phải hung thủ, vậy khả năng duy nhất là ngươi giết người.” Một bổ khoái bên cạnh cũng góp lời: “Nếu hung thủ không phải là ngươi, tại sao phu quân của ngươi lại nắm cây trâm của ngươi trong tay?”

“Oan quá, tôi… tôi không giết người!” Hâm nương mặt mũi xám ngoét, nhưng chỉ biết lắc đầu quầy quậy, không phân bua được câu nào. 

“Dẫn đi.” Bổ đầu vung tay, các bổ khoái thành thạo cầm xích sắt tới toan xích lại.

Huyền Trạm thấy họ thô bạo lôi Hâm nương dậy, không để cô kịp phân trần câu nào đã định bắt đi, bất giác nhíu mày, rồi nhìn sang cây trâm vàng trong tay thi thế, kéo kéo tay áo mẹ.

Nữ tử áo lụa biếc vỗ đầu cậu, cao giọng hỏi bổ đầu: “Đại ca à, tôi cho rằng nương tử đây không phải hung thủ đâu, chẳng hay các vị có thời gian nghe tôi trình bày cách nhìn của mình không?”

Bổ đầu liếc người mẹ, vẻ khinh bỉ: “Đàn bà biết gì, đừng cản trở việc công.”

Thấy hắn coi thường mình, người mẹ chỉ cười, rút một lệnh bài ra: “Người phủ Quỳ vương, xin các vị giúp cho.”

Bổ đầu sững người, nhìn lệnh bài thếp vàng nạm bạc, rõ ràng là làm theo sắc chỉ nhà vua, vội vàng cùng các bổ khoái hành lễ, giọng hơi run rẩy: “Quỳ vương nổi danh thiên hạ, tại hạ ngưỡng mộ đã lâu! Nghe nói nhiều năm trước vương gia đã dắt vương phi rời kinh du ngoạn, thỉnh thoảng mới nghe vài sự tích lưu lại, đều cách Dương Châu rất xa… Lần này vương gia đến Dương Châu rồi ư?” 

Người kia cũng đáp lễ: “Vương gia không ở đây, tôi đến Dương Châu có chút việc thôi.” Bổ đầu lại hỏi: “Nghe nói năm xưa vương phi cũng từng phá hàng loạt kỳ án, chúng tôi vẫn ngưỡng mộ không thôi. Nương tử là người bên cạnh vương phi hay sao? Thấy vụ án này thế nào?”

“Tôi chỉ nghĩ, nếu đúng là do Hâm nương gây ra, tại sao trong khoảng thời gian ngắn ngủi, cô ta đã đi rồi còn vòng lại, dẫn lửa đốt mình?” Người mẹ tránh câu hỏi về thân phận, cất lệnh bài đi rồi nhìn sang thi thể dưới gốc cây. “Dấu chân trên tuyết đã bị vùi lấp quá nửa, cô ta rõ ràng có thể đứng từ chỗ tôi nhìn sang, nói rằng phu quân mình không đứng dưới gốc cây rồi bỏ đi. Đợi thêm lát nữa, tất cả dấu chân bị tuyết lấp hết, thời gian tử vong của nạn nhân cũng khó mà xác định mới quay lại, tới lúc đó chẳng ai biết được khi chồng cô ta chết có ai đến gần không, vụ này sẽ rất dễ bị quy vào án giết người cướp của, không phải sao?”

Bổ đầu gật đầu, nhưng vẫn cố chống chế: “Có những phạm nhân ngu ngốc như vậy đó, cũng chẳng phải chưa thấy bao giờ…”

“Tôi mạn phép hỏi cô ta mấy câu nhé.” Nữ tử áo lụa biếc nói rồi đến đỡ Hâm nương dậy, vén lại dùm mớ tóc rối trước trán, khẽ hỏi: “Vận nương là ai?”

Mặt Hâm nương đang trắng bệch, giờ lại xám ngắt đi: “Cô… sao cô lại biết Vận nương?” 

“Cô muốn rửa oan thì kể rõ cho tôi nghe đi.”

“Nhưng… cuối năm ngoái chúng tôi mới rời quê đến Dương Châu, sao cô lại biết Vận nương…”

Nữ tử áo lụa biếc chỉ nhìn cô ta, vẻ dịu dàng mà kiên quyết. Hâm nương tần ngần, cuối cùng mới run rẩy hé môi, lẩm bẩm: “Vận nương và tôi ra đời cùng một lúc, cùng được bế đến xin tộc trưởng đặt tên. Chúng tôi là người cùng thôn, đều họ Ngụy, cũng có họ hàng xa… Năm chúng tôi chừng năm sáu tuổi, mẹ Vận nương đón đứa cháu họ xa mồ côi A Thành về nhà, còn để A Thành và Vận nương đính hôn từ bé, thế nên… tuy ba người chúng tôi luôn chơi cùng nhau, nhưng giữa hai người họ, lúc nào cũng khác…”

Nữ tử áo lục biết cụp mi, bình thản “ừm” một tiếng: “Có điều, về sau cô lại được gả cho A Thành.”

“Vâng… Đáng lẽ A Thành kết hôn với Vận nương. Tôi cũng có chồng chưa cưới mới gặp mặt vài lần, nên cả tôi và Vận nương chuẩn bị đồ cưới cùng lúc. Về sau A Thành đến tiệm vàng trong thành học nghề, nhà tôi và nhà Vận nương nhờ A Thành đánh hai cây trâm giống hệt nhau, bên trên khắc tên hai chúng tôi.” Hàm nương thẫn thờ nhìn cây trâm vàng trong tay phu quân, vẻ mặt héo hắt vì buồn bã: “Tuy kiểu dáng này không thịnh hành nữa, nhưng bấy giờ đôi trâm ấy là nhất ở thôn chúng tôi đấy, hai chúng tôi hết sức nâng niu. Kể cả bây giờ, tôi vẫn cất kỹ trong hộp nữ trang, chỉ những khi tết nhất mới dám cài…” 

Huyền Trạm không hiểu được những chuyện này, chớp chớp mắt vẻ buồn chán, nhưng thấy mẹ chăm chú lắng nghe, cậu cũng giơ cao đèn, lặng yên nghe Hâm nương kể lể.

“Dạo ấy tôi và Vận nương đều bận may áo cưới, nên sau khi lấy trâm cũng không gặp mặt… Ai ngờ gần đến ngày cưới thì Vận nương nhận được tin bà ngoại bị đau chân, muốn cô ấy đến thăm một lúc trước khi về nhà chồng. Kết quả, trên đường đến thôn nhà bà ngoại, đường núi hiểm trở, trời lại vừa mưa to mấy hôm, bùn lầy trơn trợt, Vận nương bị hụt chân… thế là…” Hâm nương bưng mặt, cơ hồ không kể tiếp được.

Huyền Trạm tròn mắt kinh ngạc.

Kể chuyện từ rất lâu, song Hâm nương vẫn đau như xé ruột, đấm ngực lẩm bẩm: “Sau khi Vận nương qua đời, A Thành nằm phục trên mộ, không ăn không ngủ, chỉ muốn đi theo cô ấy. Tôi đi ngủ thì mơ thấy Vận nương về, cô ấy nói hai ta tình như chị em, giờ tôi không thể chăm lo cho A Thành nữa, phiền cô chăm sóc huynh ấy giùm. Suốt mấy ngày cứ mơ cùng một giấc mơ như thế, tôi cũng chẳng biết làm sao, đành nói lại với cha mẹ, để tôi thay Vận nương cưới A Thành. Người trong tộc đều thương xót Vận nương và A Thành, thế là tôi được gả cho A Thành…”

Mọi người xung quanh nghe Hâm nương kể đều âm thầm thở dài. Song nữ tử áo lụa biếc lại hỏi: “Tìm được thi thể Vận nương không?”

Hâm nương gật đầu: “Tìm thấy ngay hôm đó dưới thung lũng rồi… máu thịt bê bết cả…”

“Cây trâm của cô ấy thì sao?”

“Vật nhỏ như vậy rơi xuống núi thì làm sao tìm được nữa?” Hàm nương ôm mặt khóc nức lên.

“Vậy chồng chưa cưới của cô làm thế nào?” 

“Em gái tôi được gả cho người ấy, giờ… gia đình họ cũng rất hạnh phúc… Tôi và A Thành, vốn dĩ cũng hạnh phúc như vậy…”

Nữ tử áo lụa biếc quay sang nhìn thi thể Lưu Thành nằm đó, lạnh nhạt nói: “Hạnh phúc ư? Có lẽ cô rất hạnh phúc, nhưng người Lưu Thành yêu không phải là cô, dù cô trăm phương ngàn kế, thậm chí không tiếc tay sát hại Vận nương tình như chị em với mình, cũng không giành được tình cảm của Lưu Thành.”

Thấy người kia đột ngột đổi giọng lạnh nhạt, Hâm nương rùng mình, co rúm lại: “Cô… cô nói bậy! Tôi sao có thể giết… giết Vận nương được? Cô… đến Vận nương là ai còn chẳng biết, đừng nói linh tinh nữa…” 

Các bổ khoái ngơ ngác nhìn nữ tử áo lụa biếc. Vừa rồi khi họ cho rằng Hâm nương giết chồng, chính nữ tử này đã lên tiếng chất vấn, song giờ chỉ dựa vào mấy câu nói, lại xác định Hâm nương đã giết người, hơn nữa còn giết một người đã chết từ lâu.

Mọi người nín lặng nhìn nhau, không ai hiểu gì cả. 

Chỉ nghe nữ tử áo lụa biếc nói tiếp: “Cô có biết vì sao phu quân mình lại đột ngột chết ở đây không? Vì hắn đã phát hiện ra nguyên nhân cái chết của Vận nương. Có lẽ hắn trước sau vẫn chỉ yêu Vận nương; có lẽ hắn không dám tin người đầu gối tay ấp với mình lại là hung thủ giết người; cũng có thể hắn và cô sống rất hạnh phúc nên không đủ dũng khí ra tay trực tiếp với cô. Thế nên hắn nắm chặt cây trâm của cô trong tay, như vậy dù hắn đi theo Vận nương, quan phủ cũng sẽ xử tội cô, coi như báo thù cho Vận nương.” 

Mắt Hâm nương vằn đầy tia máu, như điên như dại, trông cực kỳ đáng sợ: “Cô nói bậy! Chúng tôi hạnh phúc như thế, mấy năm nay A Thành dần dần không nhắc đến Vận nương nữa, sao chàng có thể… cho rằng tôi giết Vận nương được?”

“A Thành sực hiểu ra, có thể là từ một hành động, một câu nói, cũng có thể chính vì cây trâm vàng hắn làm được cô cất giữ trong hộp nữ trang…” Nữ tử áo lụa biếc trỏ cây trâm, “Cô nói, thường ngày tiếc không dám cài, vậy chắc hẳn đến tết nhất sẽ cài nó lên? Tôi nghĩ có lẽ vào dịp Tết năm nay, phu quân cô nhìn kỹ cây trâm mình tự tay làm ra, đã hiểu ra tất cả…”

Hâm nương run bắn người lên, nhìn trừng trừng cây trâm trong tay A Thành, không thốt nổi lời nào.

Nữ tử áo lụa biếc đi đến bên thi thể cầm cây tram lên, chậm rãi nói: “Cô kể rằng Vận nương đi đến nhà bà ngoại một mình, rồi bị ngã trên đường núi, là nói dối đúng không? Bởi vì lúc ấy, bên cạnh cô ta nhất định còn một người khác, kẻ đó chính là cô.”

Huyền Trạm xách đèn lồng, miệng há to, mắt sáng rực nhìn mẹ. Các bổ khoái cũng quên cả bàn tán, chỉ nhìn chằm chằm vào cây trâm, chăm chú nghe người nọ phân tích.

“Trang sức vàng là món đồ cưới quý giá nhất, bà ngoại Vận nương muốn gặp cháu một lần trước khi về nhà chồng, hiển nhiên cô ta sẽ đem cây trâm chồng chưa cưới đánh cho mình đến khoe với bà. Có lẽ cô đã đuổi kịp cô ta trên con đường núi gập ghềnh hiểm trở ấy. Có điều tôi đoán cô không đẩy Vận nương xuống ngay, mà đôi bên còn đánh nhau một trận. Trong lúc cấu xé, hai cây trâm vàng đều rơi ra, trâm của cô theo Vận nương rơi xuống vực, còn trâm của cô ta lại rơi trên mặt đất, bị cô nhận lầm là trâm của mình, ai bảo tên hai người viết giống nhau như vậy, thể chữ triện hoa mai này cũng rất khó phân biệt nữa…”

Nói đoạn, người nọ giơ cây trâm ra trước mặt Hâm nương: “Chắc cô không biết chữ, càng không đọc được thể triện hoa mai. Song người đã học chỉ cần thoáng nhìn là nhận ra ngay, đây không phải chữ ‘Hâm’ tên cô mà là chữ ‘Vận’ trong tên Vận nương. Chữ khắc trên trâm nhỏ thế này, trông lại rất giống nhau, người biết đọc chữ triện hoa mai không nhiều, ngay phu quân cô cũng phải rất lâu về sau mới nhìn rõ… Thì ra, đây là cây trâm của Vận nương.”

Hâm nương suy sụp ngã ngồi xuống đất, nắm chặt trâm vàng trong tay, trân trân nhìn phu quân mình rồi phủ phục xuống khóc òa lên. 

“Cô từng kể, từ khi bắt đầu may áo cưới, cô và Vận nương không gặp nhau nữa, vậy cây trâm của người quá cố rơi vào tay cô từ lúc nào?” Người nọ nhìn Hâm nương, giọng bình thản: “Hai người từ nhỏ lớn lên bên nhau, lúc sắp lấy chồng hẳn phải lưu luyến lắm, sao lại không gặp nhau nữa? Chắc hẳn lúc đó đôi bên vì A Thành đã ngấm ngầm xảy ra tranh chấp. Nhưng dù giành được chồng chưa cưới của bạn thân, cô cũng chỉ phá hỏng cuộc đời của cả ba người mà thôi.”

Hâm nương siết chặt cây trâm, mũi trâm đâm sâu vào lòng bàn tay cũng không có cảm giác, cứ đờ đẫn ngồi đó bất động. 

“Tôi chỉ không hiểu tại sao lúc đi tìm Vận nương, cô lại cài cây trâm của mình? Đáng lẽ cô không nên mang trâm theo, bằng không cũng chẳng bị lẫn…”

“Tôi… tôi vốn không định giết Vận nương, lúc đuổi kịp cô ấy trên đường núi, chỉ muốn xin cô ấy san sẻ A Thành cho tôi một chút, dù… dù tôi làm bé cũng được…” Hàm nương nghẹn ngào, “Tôi đem trâm của mình theo, định nói rằng chúng tôi có thể giống như vậy, cùng nhau lớn lên, ngay cả đồ cưới cũng giống nhau. Nếu cô ấy không muốn nhường cho tôi, thì hai chúng tôi có thể cùng lấy một người, không phải cũng giống thế sao…”

Nữ tử áo lụa biếc thở dài khẽ đáp: “Không giống.” 

Hâm nương ôm ngực, tắc nghẹn, đau thắt, tiếng nức nở cũng bặt dần. Cây trâm vàng đã cắm vào tim cô ta. 

“Cô nói đúng… không giống nhau. Cô ấy… khăng khăng từ chối tôi. Đôi bên giằng co, không ngờ đường núi đã bị mưa xói mòn dẫn đến… sụt lở. Cô ấy bị hụt chân…”

Các bổ khoái đổ xô đến, giằng tay Hâm nương ra, nhưng tim đã bị đâm thủng, rõ ràng lành ít dữ nhiều. Hâm nương trừng trừng nhìn nữ tử áo lụa biếc trước mặt, dường như muốn hỏi điều gì đó, nhưng cuối cùng vẫn ngã xuống. 

Hai cái xác, một vụ náo loạn. Đôi vợ chồng được các bổ khoái khiêng đến đặt cùng một chỗ, đầu sát đầu, vai kề vai, nếu không nhìn vết thương thì thực giống như đang tựa vào nhau. 

Nữ tử áo lụa biếc thở dài, dắt tay con trai xoay người bỏ đi.

Huyền Trạm vẫn xách chiếc đèn lồng, ngọn nến ngắn ngủn bên trong đã sắp chảy cạn. Dưới ánh nến, cậu quay lại nhìn đám người dưới gốc cây, sực nhớ ra một chuyện liền hỏi: “Mẹ ơi, còn một vấn đề mẹ chưa giải thích.” Mẹ chớp mắt cúi đầu nhìn cậu.

“Mẹ nói chồng cô ta tự vẫn, nhưng bên cạnh thi thể không có hung khí, ông ta làm sao tự sát được?” 

“Nếu có hung khí chẳng phải sẽ bị phát hiện là tự sát ư? Hung khí ắt phải dấu đi rồi.”

Huyền Trạm vội túm tay mẹ hỏi dồn: “Giấu ở đâu cơ? Sao con không thấy?”

“Dĩ nhiên con không thấy được rồi. Con quên rồi à? Hàm nương nói mình cùng phu quân thả đèn dưới gốc cây, nhưng lúc chúng ta đến chỉ thấy chỗ đó tối om, đèn ở đâu?”

“Ở đâu nhỉ?” Huyền Trạm nghi hoặc ngẫm nghĩ, thấy mẹ ngẩng đầu nhìn trời, cậu cũng ngước lên nhìn theo.

Giữa bầu trời lắc rắc mưa tuyết, lấp lánh từng đốm sáng, từng đốm sáng. Đó là đèn trời mọi người thả, đang bay lên chín tầng trời cao vút.

“Lưu Thành là thợ bạc, làm một lưỡi dao thật mỏng thật nhẹ, chắc chẳng khó khăn gì.” Nghe mẹ nói vậy, Huyền Trạm mở to mắt nhìn những đốm sáng lung linh dần dần tan biến giữa nền trời.

Đột nhiên, mưa tuyết lất phất cùng những ngọn đèn trời lơ lửng trên cao đều bị một tán ô che lấp. Cậu trông thấy gương mặt tươi cười của cha đang cúi xuống nhìn mình. 

Mẹ mỉm cười cầm lấy chiếc ô từ tay cha, giơ lên cao che.

Còn cha bế bổng Huyền Trạm lên, hà hơi sưởi ấm cho bàn tay nhỏ lạnh cóng. 

Cả nhà ba người đi thẳng về phía ánh đèn rực rỡ. Huyền Trạm dựa vào lòng cha, thì thào: “Cha ơi, con phải mách với cha việc này, hôm nay mẹ lại quản chuyện không đâu rồi.” 

” Ừm, thế cũng tốt. Hễ chỗ nào có án mạng là có mẹ con, cha cũng dễ tìm hai mẹ con.” 

“Cha ơi, hôm nay mẹ rất lợi hại nhé, chỉ hỏi mấy câu đã phá được hai vụ án mạng, một vụ hôm nay, một vụ từ mấy năm trước.”

“Mẹ con vẫn lợi hại mà, lẽ nào Huyền Trạm không biết?” 

“Con cũng rất lợi hại, nhìn qua là nhận ra ngay chữ triện hoa mai cha dạy. Nên nếu không có con, vụ án hôm nay không phá được đâu!”

“Ồ? Xem ra Huyền Trạm lợi hại hơn cả mẹ rồi, mẹ con mười hai tuổi mới nổi tiếng, còn Huyền Trạm năm nay chỉ tám tuổi thôi.” 

“Dĩ nhiên rồi! Sau này, cả thiên hạ đều sẽ biết tên con – Lý Huyền Trạm!”

-Hoàn-


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.