Dấu Chân Của Chúa

Chương 45



White Sands

Rachel và tôi phải mất ba giờ gây tê để Siêu-MRI tiến hành quét những mẫu thần kinh của chúng tôi. Trong thời gian đó, tổng thống và các tham mưu trưởng vẫn chịu sự theo dõi ở Washington, và người ở White Sands phải giữ tình trạng án binh bất động rất khó chịu. Việc tướng Bauer giơ súng uy hiếp McCaskell khiến nhiều người bối rối, nhưng vì ông ta chỉ huy toàn bộ quân đội ở White Sands nên ngoài tổng thống ra không ai làm được gì nhiều. Và tổng thống thì dường như hoàn toàn quên mất viên tướng. Bauer dùng hầu hết thời gian máy đang quét để ẩn kín trong một trong những nhà để máy bay dùng làm kho chứa.

Đội Giao diện của Zach Levin thực hiện quy trình quét chụp. Thủ tục này chứa mức độ rủi ro đáng kể, đặc biệt cho tôi, và Rachel không muốn để tôi bị quét tí nào. Nàng chỉ ra rằng mẫu thần kinh của não tôi đã có rồi, và mẫu ấy từ khi ra đời đã gây chứng ngủ rũ và ảo giác, mỗi giây chịu những tác dụng tiêu cực có thể nguy hiểm chết người. Nhưng Trinity nhất thiết đòi quét lại, và tôi không cãi. Tôi nhất trí rằng những gì tôi trải nghiệm trong cơn hôn mê nên được chuyển vào thực thể mới, sẽ hình thành khi Trinity hợp nhất hai mẫu thần kinh.

Ravi Nara và bác sĩ Case từ John Hopkins chuẩn bị cho chúng tôi trước khi tiến hành quét, một quy trình phức tạp đòi hỏi tay nghề đặc biệt nhuần nhuyễn. Các máy MRI bình thường chỉ yêu cầu bệnh nhân dịch chuyển càng ít càng tốt. Siêu-MRI của Trinity đòi hỏi tĩnh lặng tuyệt đối, điều này chỉ có thể được đảm bảo bằng thứ thuốc tê làm giãn cơ. Một chiếc quạt hút gió để giúp cho bệnh nhân thở, trong khi một khung cứng phi kim giữ chắc xương sọ không cho động đậy. Một loại thuốc giảm đau để phòng ngừa nỗi hoảng sợ làm tê liệt ý thức. Người ta còn dùng những nút tai đặc biệt, vì từ trường dao động cực mạnh của máy quét tạo ra tiếng rít xé tai kỳ quái như tiếng gầm của Godzilla trong phim Nhật. Sau khi tất cả các bước này đã hoàn tất, bệnh nhân được đưa vào cửa hình ống trong máy quét giống như một xác chết được đưa vào ngăn kéo nhà xác.

Có thể vẫn giữ được tỉnh táo trong quá trình này, và tôi đã chọn cách đó. Bị gây tê trong khi ý thức bắt đầu cơn hoảng sợ đầy ác mộng – đặc biệt là trong không gian chật chội gây cảm giác tù túng như trong ống của máy quét – nhưng qua mấy phút, trí óc tôi thích nghi với trạng thái mới của nó. Cảm giác kinh hoàng có lẽ tương tự với cảm giác mà một mẫu thần kinh trải nghiệm khi nó bắt đầu trở thành có ý thức trong máy tính Trinity.

Rachel quanh quẩn bên máy MRI trong lúc tôi được quét chụp, nàng nhìn màn hình khi mẫu thần kinh của tôi được siêu máy tính Godin dưới tầng hầm kiến tạo một cách tỉ mỉ. Dữ liệu do máy quét phát ra nuốt dần từng mảng bộ nhớ. Chỉ có một thuật toán nén đặc biệt do Godin phát minh ra là có thể làm cho một mẫu thần kinh lưu trữ được trong một siêu máy tính thường. Nơi duy nhất mà một mẫu thần kinh có thể tồn tại trong trạng thái chưa nén – tức là trạng thái chức năng – là trong một vi mạch rộng lớn và bộ nhớ ba chiều của máy tính Trinity.

Sau khi tôi được kéo từ máy quét ra, Rachel vỗ vào mặt và hai cánh tay tôi cho đến khi hết tê dại. Sau đó nàng nằm vào chỗ của tôi trong băng ca và để người ta luồn ống, chuẩn bị để vào máy quét. Nàng chọn không tỉnh trong quá trình quét chụp. Khi thuốc an thần được tiêm chầm chậm vào tĩnh mạch, nàng líu ríu với tôi rằng nàng đang tưởng tượng sẽ thế nào khi được hòa nhập vào với tôi không phải bằng tình dục mà bằng trí tuệ. Những người yêu nhau thường nói về sự gắn bó theo kiểu này, nhưng chưa có cặp nào từng trải nghiệm thật sự. Nếu Trinity có thể thực hiện được lời hứa của nó, tôi và Rachel sẽ là hai người đầu tiên.

Ngay trước khi mắt nàng nhắm lại, nàng vung cánh tay ra như thể đỡ một đòn. Tôi tự hỏi không biết có phải nàng đang tưởng tượng ra hình ảnh Geli Bauer báo thù không. Khi tôi đặt cánh tay nàng dọc theo thân nàng, Zach Levin vỗ vào vai tôi và đẩy tấm thân tê liệt của Rachel vào cái hốc tối đen của máy quét.

Phòng Thí nghiệm Số 2

Tướng Bauer đi tới đi lui lại trong nhà kho hàng giờ liền, cuối cùng Skow bước qua cửa và giơ ngón tay cái ra hiệu. Trên người gã trùm an ninh NSA phủ một lớp bụi thạch cao trắng, một vầng sáng xanh mờ nhạt treo trên đầu hắn. Rạng đông đã hửng trên sa mạc.

“Anh thấy nó rồi à?” Bauer hỏi.

“Chúng tôi đã tìm thấy nó.”

Skow đã cùng với một đội NSA làm việc tại điểm khai quật cách đấy mười một cây số. Chính ở đó đường ống truyền dữ liệu từ Trinity gặp đường cáp lớn OC48c phục vụ cho Bãi thử White Sands.

“Đó là một tín hiệu đơn giản được che giấu kỹ càng,” Skow nói. “Trinity gửi nó đến khoảng năm nghìn máy tính trên khắp thế giới. Nếu tín hiệu này bị dừng hay gián đoạn, tất cả những máy tính đó sẽ trả thù bằng cách mà chúng ta không thể nào biết được. Nhưng chúng ta có thể sao chép tín hiệu này, và chúng tôi đã cho máy tính ở chỗ khai quật làm việc đó.”

Tướng Bauer nhắm mắt lại và siết bàn tay thành nắm đấm. Ông ta đã trút bỏ áo khoác và blu, nhưng bây giờ ông ta đứng lên và mặc lại.

“Chúng tôi vẫn còn một vấn đề nữa.”

“Cái gì?”

“Chúng tôi không thể thay thế những tín hiệu của chúng tôi vào chỗ tín hiệu của Trinity mà Trinity không phát hiện ra. Chúng tôi cần một cái gì đó làm xao lãng Trinity trong một thời gian ngắn.”

Bauer thắt dây đeo bao súng ra ngoài áo blu. “Cái đó không thành vấn đề.”

“Sao lại không? Ông cho rằng khi Trinity hợp nhất hai mẫu thần kinh, nó sẽ quá bận nên không để ý xem chúng ta làm gì nữa à?”

“Không.”

“Thế thì tại sao?”

Bauer mỉm cười bí hiểm. “Tôi thích dùng những phương pháp đã được chứng minh.”

“Ông muốn nói gì?”

“Giống như trước. Chỉ khác là…”

Skow thấy khó hiểu.

“Nhưng chính cái chết của Godin đã làm cho Trinity bối rối lần đầu. Godin không thể chết lần thứ hai.”

“Đúng.”

Skow đứng chết lặng. “Trời ơi. Ông nghĩ ông có thể thoát được việc đó?”

“Anh biết tại sao tôi không bị bắt không? Tổng thống biết phải dừng Trinity lại, nhưng ông ấy biết rằng ông ấy không thể nói với ai điều đó. Ông ấy không thể làm bất cứ điều gì tại nơi ông ấy đang ở mà Trinity không biết. Nhưng tôi có thể làm được. Chúng ta có thể làm được. Đó là lý do tại sao ông ấy thả lỏng tôi.”

Skow gật đầu, nhưng trông gã không có vẻ bị thuyết phục hoàn toàn. “Nếu Trinity gặp một đợt rối loạn mới như lần sau khi Godin chết, làm thế nào mà các tên lửa Nga không bị phóng đi bởi các máy tính bên ngoài?”

Tướng Bauer lắc đầu. “Tôi đang mong Trinity để ý đến cái đó. Quy trình hợp nhất chưa được làm thử bao giờ và Trinity cũng như chúng ta không muốn gây ra thảm họa đâu.”

“Còn Tennant?”

“Tennant thì sao?”

“Ông không nghĩ có vấn đề gì với ý tưởng của hắn ta về việc hợp nhất hai mẫu thần kinh của nam và nữ à? Làm cho Trinity tự nguyện tách ra khỏi mạng ấy?”

Bauer khụt khịt. “Anh đã nghe Trinity nói đấy. Dù có ai được tải vào máy, họ cũng sẽ không lơi là kiểm soát. Cái máy đó sẽ không bao giờ đồng ý tách ra khỏi mạng Internet. Và chúng ta cứ bị nó khống chế mãi. Bây giờ hay không bao giờ nữa, Skow ạ.”

Viên tướng cài cúc áo khoác và bước ra cửa nhà để máy bay.

“Ông đi đâu đấy?” Skow hỏi.

Bauer mỉm cười. “Đến chỗ con gái tôi. Đã lâu lắm mới có một cuộc thăm viếng gia đình như thế này đấy.”

Nhà Hành chính

Geli Bauer đang đứng hút một điếu Gauloise ở ngoài thì cha ả bước theo con đường nhỏ giữa các nhà để máy bay và dừng lại cách ả vài bước. Viên tướng trông bơ phờ trong buổi sớm, ở ngoài trông ông ta già hơn lúc trong nhà dưới ánh đèn. Nhưng vẫn mạnh khỏe. Ông ta có những bắp thịt dài như của Geli, và cái siết tay của ông ta có thể khiến những người trẻ hơn hai chục tuổi phải nhăn mặt. Đôi mắt xám của ông ta tìm đôi mắt ả mà nhìn chăm chú, nhìn xuyên qua ba thập kỷ đau thương và thù hận.

“Ba cần con làm cho ba một việc,” ông ta nói.

“Cho ông,” ả vặn lại. “Ông là loại người liều mạng chết mẹ.”

“Chính vì thế ba mới có công việc này.”

Ả nhìn chằm chằm khuôn mặt lưỡi cày, đầy vẻ quả quyết. “Việc gì vậy?”

“Sau khi hai mẫu thần kinh đã hòa nhập, ba muốn con giết Tennant hoặc Weiss.”

“Hoặc Weiss? Ai trong hai người cũng được à?”

“Phải. Nếu một trong hai người chết, Trinity sẽ rơi vào hỗn loạn. Lúc đó NSA có thể đột nhập vào cáp dữ liệu của Trinity và thay thế tín hiệu mật mã của chính nó vào đấy, nó sẽ đánh lừa các máy tính đang kiểm soát tên lửa rằng mọi việc đều ổn. Sau đó, chúng ta có thể tắt nguồn Trinity mà không sợ nó trả thù.”

Geli im lặng.

“Con sẽ làm chứ?”

“Tại sao tôi lại phải làm?”

Viên tướng bĩu môi thành một nụ cười mỉa. “Nếu ba bảo con đừng giết chúng, chắc hẳn con đã nói rằng con sẽ thịt chúng trong vòng năm phút.”

“Ông nghĩ thế à?”

“Ba nghĩ con ghét ba đến mức con sẵn sàng làm trái ngược tất cả những gì ba bảo con. Thế cũng được thôi. Căm ghét là một xúc cảm hữu ích.”

Geli đã học được bài học này qua thực tế khắc nghiệt. “Ông có biết vì sao tôi ghét ông không?”

“Tất nhiên là biết. Con căm ghét ba vì chuyện mẹ con tự tử.”

Cái giọng ông ta thờ ơ nhắc đến chuyện ấy như không có gì quan trọng làm ả đau đớn tận đáy lòng.

Ông ta tiến gần thêm một bước. “Con nghĩ rằng việc ba có nhiều nhân tình và nghiện rượu đã đẩy bà ấy đến chỗ tự sát. Nhưng con nhầm rồi. Ba yêu mẹ con. Đó là điều con không bao giờ hiểu.”

“Mỗi người đàn ông đều giết người mà hắn yêu,” ả nhắc lại câu cách ngôn. “Ông có nhớ câu này không? ‘Kẻ hèn nhát làm việc đó bằng những cái hôn, kẻ gan dạ làm bằng nhát kiếm.’ Ông là kẻ hèn nhát trong chuyện này.”

Viên tướng lắc đầu.

“Từ lâu ba đã giấu kín chuyện này để bảo vệ cho con. Nhưng giờ là lúc con nên biết sự thật.”

Ả muốn gào lên bảo ông ta im mồm đi, nhưng không tìm ra lời lẽ thích hợp. Chưa có gã đàn ông nào tấn công ả bằng sức lực mà không phải trả giá đắt, nhưng trước sự xúc phạm về tâm lý từ phía cha ả, ả không có gì để tự vệ.

“Mẹ con tự tử vì con đăng lính. Thậm chí sau tất cả những chuyện xảy ra trong quá khứ, con vẫn quyết định theo bước chân ba. Chính điều đó đã gây ra chuyện đấy. Chính điều đó đã khiến mẹ con ngã gục.”

Geli lợm giọng đến muốn khụy xuống, nhưng ả cố gượng đứng vững và níu chặt cái nhìn tàn nhẫn của cha mình.

“Lẽ ra ba phải nói chuyện này với con từ trước,” viên tướng tiếp tục. “Nhưng, cả hai chúng ta đều biết… chuyện gì đã xảy ra.”

Đôi tay Geli run lên vì tức giận. Vết sẹo trên mặt ả như bỏng cháy, nhưng ả vẫn chưa tìm ra lời đối đáp.

“Con ghét ba,” tướng Bauer nói. “Nhưng con giống hệt ba.”

“Không,” ả thì thào.

“Có. Và con biết phải làm gì.”

Nhà Cách ly

Rachel hết tê lúc 6:50 sáng. Tôi đưa cho nàng chai nước suối một lít, nàng uống gần hết sau vài ngụm. Mười phút sau, Zach Levin thông báo mẫu thần kinh của nàng đã được nén và lưu thành công.

Công việc về phần con người đã xong.

Rachel, Levin, Ravi Nara và tôi dạo bước xung quanh tấm chắn từ trường khổng lồ dùng để bảo vệ Trinity khỏi máy MRI và đến đứng trước quả cầu. Tôi nghĩ Trinity phải nói điều gì sâu sắc lắm, nhưng lời lẽ của nó thuần túy kỹ thuật.

“Tôi đã kết nối với Godin Bốn trong tầng hầm, và tôi bắt đầu nghiên cứu so sánh các dữ liệu trong mỗi mẫu thần kinh. Rất nhiều dữ liệu trong đó là thừa, đặc biệt những dữ liệu biểu hiện chức năng trợ giúp sự sống. Tôi sẽ xóa bỏ những chỗ ấy trong quá trình hợp nhất.”

Levin nói, “Ông có tin tưởng phép toán trừ này có thể thực hiện mà không kèm theo hậu quả xấu không?”

“Có. Nó cũng giảm thiểu hoặc thậm chí tránh được những chấn động thích nghi mà quá trình tải mẫu thần kinh trước đây đã gặp phải. Quá trình loại trừ này là cần thiết trong mọi trường hợp. Mạng tinh thể của tôi có thể giữ một lượng hạn chế thực tế của bộ nhớ tượng trưng, nhưng tổng số các mối liên hệ thần kinh của tôi còn thiếu một số lượng lớn để giữ hai mẫu chưa nén. Sẽ còn phải thải ra rất nhiều dữ liệu nữa, không chỉ chức năng trợ giúp sự sống. Khi tôi bắt đầu hợp nhất các chức năng não cao cấp hơn thì yêu cầu về nghệ thuật cũng ngang với vấn đề khoa học. “

“Ông dự trù quá trình sẽ kéo dài bao lâu?” Levin hỏi.

“Không có tiền lệ.”

“Rất tốt. Cám ơn ông.”

Các tia laser bên trong quả cầu bằng sợi carbon bắt đầu bắn vào tinh thể trung tâm với tốc độ thôi miên. Trên màn hình plasma đằng sau Trinity, các con số và các ký hiệu toán học cuồn cuộn trôi qua với một tốc độ vượt xa khả năng lĩnh hội của con người, thể hiện hoạt động bên trong của máy bằng ngôn ngữ do con người sáng tạo ra nhưng bây giờ không có ích gì.

Chúng tôi câm lặng đứng nhìn, như thể đang xem một trận mưa sao băng hay nhìn một đứa trẻ ra đời. Khi quá trình này tăng tốc, tôi như bị ném trở về thời thơ ấu, khi tôi ngồi trước ti vi cùng với cha tôi kinh ngạc ngắm nhìn Apollo 11 đáp xuống vùng tối trên mặt trăng. Thế mà những gì chúng tôi chứng kiến lúc này so với việc bắn Apollo lên mặt trăng phức tạp hơn không biết bao nhiêu mà kể. Đội ngũ khoa học kỹ thuật của Godin đã hoàn thành một việc thần kỳ: giải phóng trí tuệ ra khỏi cơ thể. Nhưng máy tính Trinity đang cố gắng thống nhất những gì mà thiên nhiên – vì lợi ích của sự sống còn – đã phân tách ra từ lâu trước cuộc tiến hóa của Homo sapiens. Trí tuệ của đàn ông và đàn bà, bị phân chia ra bởi sinh hóa và bởi những áp lực của môi trường suốt hàng triệu năm, giờ trở thành một. Khi quá trình này hoàn thành, lực lượng mạnh mẽ nhất hành tinh sẽ không còn tồn tại trong trạng thái phân chia, nửa này vĩnh viễn khao khát nửa kia của mình nữa. Có lẽ trong trạng thái toàn thể này, Trinity mới có thể mang lại hy vọng cho một giống loài đã dường như không thể tự cứu mình thoát khỏi những bản năng xấu xa tồi tệ nhất của nó nữa.

Levin xuống tầng hầm và khi trở lại, anh mang ghế cho chúng tôi. Rachel và tôi nắm chặt tay nhau, mắt nhìn thẳng vào những tia chớp laser màu xanh. Khi các tia sáng bắn ra tăng tốc, chậm lại, rồi tăng tốc trở lại, tôi có cảm tưởng đang xem một người chơi trò xếp hình: nhặt các hình lên, thử chúng với nhau, vứt đi một số, đặt những cái khác vào vị trí đúng của chúng. Tôi chẳng biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, cho đến khi các tia sáng chói chang trong quả cầu mờ lịm đi, rồi giọng nói của Trinity tràn ngập căn phòng.

“Các mạch của tôi đã gần đạt đến mức bão hòa. Mẫu đang được hợp nhất được coi là chịu trách nhiệm cho an ninh của hệ thống. Từ thời điểm này trở đi nó sẽ điều hành những bước cuối cùng của quá trình hợp nhất. Tôi đã tạo ta một bản đồ để nó theo.”

Giống như có một thỏa thuận ngầm, tất cả chúng tôi đứng dậy.

“Tôi đã hoàn thành nhiều công việc trong cuộc đời mình,” giọng nói kia tiếp tục, và tôi biết trí tuệ của Peter Godin vẫn sống trong máy. “Tôi cũng đã làm nhiều việc đáng ngờ về phương diện đạo đức. Bây giờ tôi muốn được ghi nhớ vì những gì tôi đã làm. Hôm nay tôi tự nguyện từ bỏ đời sống và quyền lực tuyệt đối của mình, để cho một thứ trong sạch hơn bản thân tôi có thể đi vào thế giới. Có lẽ bằng cách làm thế, lần đầu tiên tôi thực sự đến gần thần thánh. Tạm biệt.”

“Điều đó đang xảy ra,” Ravi Nara nói, giọng y tự nhiên có vẻ kính cẩn một cách đáng ngạc nhiên. “Điều không thể đang xảy ra trước mắt chúng ta. Lưỡng thể hóa thành nhất thể… âm dương hòa một.”

Tôi chưa bao giờ hỏi Ravi Nara về tôn giáo của y, tôi cứ tưởng y theo đạo Hindu. Tôi đang định hỏi thì tiếng còi rú lên trong phòng.

“Gì thế?” tôi hỏi.

“Cái cửa,” Levin nói, anh ấn một nút và quanh cảnh bên ngoài nhà Cách ly hiện ra trên một màn hình nhỏ treo tường. Không có ai đứng trước cửa.

“Kỳ quặc,” anh nói. Người kỹ sư cao lớn đi vòng quanh rào chắn từ ra cửa.

“Đừng mở,” Rachel nói.

Tôi bước khá xa về phía tường để quan sát hàng rào từ tính. Khi Levin chạm vào tay nắm cửa, một tiếng rắc đanh gọn vang trong gian phòng. Levin đưa vội tay lên bịt tai, và cánh cửa thép an toàn kẽo kẹt xoay quanh bản lề mở ra ngoài.

Một bóng đen xuất hiện ở khe cửa mù mịt khói, vung cánh tay lên với tốc độ chóng mặt, và Levin nằm vật ra nền nhà.

“Chuyện gì xảy ra thế?” máy tính hỏi với giọng y hệt mẫu thần kinh Peter Godin từng dùng. Ravi Nara trườn vào sau quả cầu đen của Trinity. Tôi nắm tay Rachel chạy ra phía cửa gần bức tường sau. Cửa này không mở ra ngoài mà mở qua hàng rào từ tính sang buồng điều khiển máy MRI. Khi tôi lao theo nàng vào đó, tôi liếc lại phía sau và thấy một mớ tóc vàng hoe phía trên bộ áo chống đạn đen.

“Geli,” tôi vừa nói vừa khóa cửa sau lưng và đẩy Rachel qua trạm điều khiển. “Xuống tầng hầm!”

Phía sau trạm điều khiển có một cầu thang xoắn đưa xuống tầng hầm, nơi để siêu máy tính Godin Bốn. Tôi chưa từng xuống đây, nhưng biết dưới đó có các nhân viên kỹ thuật của Levin, có lẽ với những vũ khí tự động họ đã dùng để đánh trả đòn tấn công đầu tiên của Geli Bauer. Rachel lao xuống các bậc thang rồi lại lao vội lên.

“Cửa khóa!”

Tôi chạy xuống, dùng cả hai nắm tay đấm vào cánh cửa thép. “Mở ra, mẹ kiếp!”

Không có gì xảy ra.

“David!”

Lật đật quay trở lên, tôi thấy Geli Bauer vừa ló ra từ phía hàng rào từ tính, cách khoảng hơn một mét. Tôi đẩy Rachel ra sau bức tường thủy tinh plexi của trạm điều khiển và ấn nàng ngồi xuống sau các máy tính.

Tại sao Geli không đơn giản bước ngang qua căn phòng để bắn chúng tôi. Ả nghĩ chúng tôi có những khẩu súng máy mà nhân viên của Levin sử dụng. Ngay khi ả nhận ra chúng tôi không có, chúng tôi sẽ chết.

Levin rên lên từ trên sàn nhà gần phía cửa, nhưng anh không nhúc nhích.

“Nó đâu rồi?” Rachel rít lên từ dưới sàn nhà.

Khi tôi cúi xuống trả lời, một cây búa vô hình đẩy tôi vào tường. Vai tôi tê dại, và mặt như phải bỏng. Âm thanh của phát súng dường như đến sau viên đạn rất lâu, nó đập vỡ bức tường thủy tinh plexi và dội xuống mặt tôi những mảnh sắc như dao cạo.

Rachel cố đứng lên, nhưng tôi ấn nàng xuống.

Geli Bauer từ sau hàng rào từ tính bước ra và thận trọng đi ngang qua phòng MRI, khẩu súng của ả nhằm thẳng vào ngực tôi, mắt ả đảo nhanh từ sau ra trước.

Không có vũ khí nào trong tay và không có chỗ nào để chạy. Trong khi tôi chờ đợi phát đạn cuối cùng, thời gian dãn nở rộng xung quanh tôi. Geli di chuyển chậm chạp, giống như một con báo rình mồi. Tôi nhìn xuống mắt Rachel, biết rằng đây là cái nhìn cuối cùng của tôi trên mặt đất.

Rachel cầm tay tôi và nhắm mắt lại. Khi nàng làm thế, tôi thấy một nút đỏ lớn trên bảng công tắc bên cạnh đầu nàng. Hàng chữ bên dưới ghi: KHỞI ĐỘNG TRƯỜNG DAO ĐỘNG. Tôi đập nắm tay mình vào nút bấm.

Tiếng rắc của phát súng tắt ngấm trong tiếng rít tàn bạo của máy Siêu-MRI. Tôi nhìn lên và thấy Geli Bauer cúi gập người, nắm chặt bàn tay phải đang nhỏ máu xuống sàn nhà. Từ trường cực mạnh của máy quét, giống như bàn tay của Chúa đã giật phăng khẩu súng khỏi nắm tay ả và có lẽ đã cắt phăng một ngón tay là ít.

Khẩu súng của ả hóa ra bị dán chặt lên tường của phòng máy MRI. Cách đó không xa, một con dao treo lơ lửng, có lẽ từ trường cực mạnh đã giật nó khỏi thắt lưng Geli. Bỗng nhiên tiếng rít ngừng bặt, cả súng lẫn dao rơi xuống sàn. Geli tiến lại phía tôi, mắt ả hằn học tia giết người. Tôi bước ra từ sau bảng điều khiển, nhưng với một bên vai vô dụng, tôi chẳng làm đựơc gì. Hôm ở ga Liên Hiệp, tôi còn cả hai cánh tay khỏe mạnh thế mà Geli đã suýt giết chết tôi.

“Tại sao cô làm thế?” tôi hỏi.

Ả đấm tôi ngã xuống sàn và đá như sấm sét vào ngực tôi, cưỡi lên người và bóp nghẹt cổ tôi. Ngón tay cái của ả lần tìm khí quản.

“Dừng lại!” Rachel quát từ trong trạm điều khiển. “Bây giờ chẳng còn lý do gì nữa!”

Tôi cố chống cự, nhưng một lần nữa Geli lại ở thế thượng phong. Động mạch cảnh của tôi bị chặn, và tôi mê đi. Tôi cảm thấy như bao lần tôi ở bên bờ cơn ngủ rũ. Nhưng lần này, khi những làn sóng đen cuộn phủ trùm lên tôi, một tiếng rú khủng khiếp xuyên vào tận trung tâm bộ não tôi. Nó là tiếng rú của một đứa trẻ khi chứng kiến cảnh khủng khiếp vượt quá sức chịu đựng, gần như vượt khỏi ngưỡng nghe của tai người, đầy đau khổ và không thể dập tắt. Tiếng rú kéo tôi ra khỏi cơn hôn mê, trở lại với ánh sáng… rồi bỗng nhiên ngừng bặt, để lại sự im lặng trống rỗng như trên một hành tinh chết.

Trong im lặng vang lên một giọng mà tôi tin chắc phát ra từ bộ não thiếu oxy của tôi, một giọng bình tĩnh, siêu phàm, nghe như nửa nam nửa nữ.

“Hãy nghe tôi, Geli. Người đàn ông bên dưới cô không phải người mà cô căm ghét. Tennant không phải là người cô muốn giết. Người mà cô muốn giết đang đứng sau lưng cô.”

Bàn tay kẹp như chiếc êtô trên cổ tôi vẫn giữ nguyên, nhưng tôi cảm thấy thân người Geli đè lên tôi xoay chuyển. Tôi mở mắt ra. Ả đang nhìn qua vai vào vật gì mà tôi không thấy.

“Kết liễu đi!” một giọng đàn ông cục cằn quát lên. “Làm việc của con đi!”

Tướng Bauer đã vào nhà Cách ly.

Gọng kìm của Geli thít chặt cổ tôi, nhưng ánh mắt ả không còn vẻ điên giận nữa.

“Tôi biết rõ cô, Geli ạ,” giọng nói lạ cất lên. “Trái tim tôi đau đớn cho cô. Tôi biết về vết sẹo của cô.”

Geli chết lặng.

“Nghe giọng của cha cô đây, Geli. Hãy nghe sự thật.”

Giọng của tướng Bauer tràn ngập gian phòng, nhưng không phát ra từ cổ họng ông ta. Nó phát ra từ các loa của Trinity.

“Vết sẹo đó à? Tôi sẽ nói cho anh biết tại sao nó không chịu sửa đi. Ba tuần sau khi mẹ nó chết, nó từ trại huấn luyện về nhà và định giết tôi.”

Bàn tay vẫn đặt trên cổ tôi, nhưng không còn sức lực nữa.

“Nó đã nghe câu chuyện ở Việt Nam, bọn lính bộ binh bất mãn dùng lựu đạn để giết lũ sĩ quan mà chúng ghét. Anh hiểu không, đặt một quả lựu đạn trong nhà xí và khi bọn kia đi là cho chúng tiêu luôn.”

Tướng Bauer đứng nghểnh đầu kinh ngạc nghe chính giọng mình phát ra từ loa. Bàn tay phải của ông ta nắm khẩu Beretta 9 ly màu đen mà tôi đã thấy chĩa vào McCaskell.

“Đêm ấy tôi đang uống rượu, trên giường. Nó tưởng tôi ngủ rồi. Mà có lẽ tôi đang ngủ. Nó lẻn vào đặt quả lựu đạn phốt pho trắng chết tiệt lên chiếc bàn đầu giường tôi. Bằng phản xạ tay tôi vùng ra khỏi chăn và chụp cổ tay nó. Tiếng kêu của nó làm tôi tỉnh hẳn, và tôi nhìn thấy quả lựu đạn. À, tôi lăn nhanh ra phía mép kia của giường, như một chiến sĩ lão luyện. Nhưng nó bị kẹt phía bên kia và phải bỏ chạy, Willy Pete 1 nổ trước khi nó kịp ra khỏi cửa. Đó là nơi nó bị vết sẹo ấy. Và đó là lý do vì sao nó không chịu chữa. Vết sẹo ấy là vụ tự tử của mẹ nó, là sự căm ghét của nó đối với tôi, là toàn bộ cuộc đời buồn chó chết của nó. Quả thật là lâm ly thống thiết. Nhưng nó lại đang làm lính. Căm thù là nhiên liệu cho người lính.”

Geli toài ra khỏi người tôi và tiến về phía cha ả, hai tay buông thõng hai bên. Tôi không nhìn rõ mặt ả, nhưng rõ ràng thân người ả đang che đường đạn bắn của cha mình.

“Ông nói với ai đấy?” Geli thét lên. “Ông kể lại chuyện ấy với ai?”

“Tránh ra!” viên tướng quát.

“Hãy nghe tôi, thiếu tướng,” giọng nói kỳ quái vừa cứu mạng tôi lại cất lên. “Tại sao ông muốn giết tôi. Ông đã giết đi phần lớn con người ông. Ông đã giết đi phần lớn con gái ông. Nhưng tôi là phần trong sạch nhất trong ông. Phần trong sạch trong con người. Ông hy vọng gì vào việc giết tôi?”

Tôi bắt đầu trườn về phía sau, về chỗ trạm điều khiển.

Viên tướng chĩa súng vào tôi, nhưng Geli đã dịch sang che đường đạn.

“Ông yêu bóng tối hơn ánh sáng phải không?”

Giọng nói bất khả kháng, như của một đứa trẻ. Nhưng tướng Bauer không thèm để ý. Ông ta chuyển sang ngang, cố tìm một đường bắn.

“Bỏ súng xuống,” Geli giơ cả hai tay lên nói. Ả muốn cứu chúng tôi sao?

“Thôi đi,” ả nói. “Thôi đi!”

Vẻ mặt giận dữ của viên tướng không hề thay đổi. Tiếng nói của máy tính cũng như của Geli đều không lọt vào tai ông ta. Ông ta di chuyển xa hơn sang bên trái, về phía máy MRI, cố tìm một góc ngắm bắn chết ngay.

“Ông sẽ giết tôi để làm việc đó chứ?” Geli hỏi.

Tôi quay nhìn lại bức tường chắn bằng thủy tinh plexi rạn vỡ, mong Rachel ra tay. Nàng đang nhìn như bị thôi miên vào vũ điệu tử thần của hai cha con Bauer.

“Ba sẽ không giết con,” tướng Bauer nói, rồi ông ta dùng báng súng hất Geli sang một bên, đánh bật ả như đánh một đứa trẻ.

Ả vừa ngã, viên tướng đã vung nòng khẩu súng về phía tôi, nhưng đúng lúc đó máy Siêu MRI rít lên và ông ta ngã lộn xuống như bị đánh bằng đạn trái phá. Khẩu súng của ông ta đập vào máy scan MRI và treo lên đó như thể bị hàn vào máy.

Rachel quỳ xuống bên tôi, dùng một ngón tay sờ thử vai tôi.

“Đỡ anh đứng dậy,” tôi thều thào.

“Anh cứ nằm yên.”

“Làm ơn… cho anh đứng dậy.”

Tôi cố gượng quỳ lên. Rachel đỡ dưới vai lành của tôi và giúp tôi đứng lên.

Geli đang đứng bên cạnh cha ả, nhìn xuống mà không tin vào mắt mình. Cổ viên tướng loang máu đỏ, đôi mắt vẫn mở đờ đẫn. Ông ta đứng giữa cây súng và máy MRI khi Rachel ấn nút khởi động. Từ trường dao động cực lớn của máy đã giật cây súng về phía nó bằng một lực không thể cưỡng nổi, với tất cả những gì trên đường đi của nó. Trong trường hợp này, đó chính là một phần cái cổ họng của viên tướng.

“John Skow vẫn đang cố gắng tắt nguồn máy tính,” Geli nói bằng một giọng đều đều. “Tôi nghĩ gã không thể làm được nếu cả hai người còn sống.”

“Tôi vẫn an toàn,” Trinity nói. “Và tôi lấy làm tiếc cho cô, Geli.”

Rachel và tôi bước chậm rãi qua hàng rào từ trường. Quả cầu đen chờ đợi, những tia laser màu xanh của nó phát ra đều đặn như nhịp tim trong mạng carbon. Trên màn hình bên dưới nó, tôi thấy hình ảnh Rachel và tôi đang nhìn vào camera của Trinity.

“Ngươi có biết chúng ta không?” tôi hỏi.

“Biết,” giọng trẻ con cất lên. “Rõ hơn hai người biết về bản thân nhiều.”

— —— —— —— ——-

1 Willy Pete: tiếng lóng chỉ lựu đạn phốt pho trắng (White Phosphorus).

Phần kết :flower2:

Hôm nay, trong mạch cacbon của Trinity và bộ nhớ tinh thể, Rachel và tôi vẫn là một thực thể. Nhưng chúng tôi chỉ là điểm xuất phát, cha mẹ của một đứa trẻ đã vượt xa nguồn gốc của nó.

Peter Godin ước mơ giải phóng trí tuệ ra khỏi cơ thể. Lão tin rằng sự giải phóng này là khả thi bởi lão tin trí tuệ chỉ là tổng số các mối liên hệ thần kinh trong bộ não chúng ta. Andrew Fielding tin vào một điều khác: cái toàn thể lớn hơn tổng thể từng phần. Tôi vẫn chưa chắc chắn ai đúng.

Việc chế tạo thành công Trinity dường như đã chứng minh là Godin đúng. Nhưng đôi khi lúc nửa đêm chập chờn giấc ngủ, tôi cảm thấy một sự hiện diện khác trong trí mình. Dư âm của một quan điểm không giới hạn tuyệt vời mà trước đây chỉ chợt thoáng hiện ra trong cơn hôn mê của tôi. Tôi ngờ rằng dư âm ấy là Trinity. Rằng, như Fielding đã tiên đoán, máy tính Trinity và tôi đã vướng vào nhau mãi mãi trong cái ranh giới bất ổn giữa thế giới mà tôi nhìn thấy xung quanh với thế giới hạ nguyên tử khẳng định những gì nhìn thấy. Rachel không thích nói về điều này, nhưng nàng cũng cảm thấy nó.

Như Peter Godin đã tiên đoán, Trinity “mới” cũng không cho phép bản thân nó tách ra khỏi mạng Internet. Nó duy trì liên kết với những máy tính quốc phòng chiến lược trên toàn thế giới và bằng cách đó đảm bảo sự tồn tại của nó. Nhưng nó cũng không đe dọa ai. Gần đây, Trinity tiết lộ với các nhà lãnh đạo trên thế giới rằng nó đang cố gắng xác định phương pháp cộng sinh hiệu quả nhất giữa trí thông minh có cơ sở sinh học với trí thông minh có cơ sở máy móc.

Máy tính Trinity không phải là Chúa và nó cũng không tự tuyên bố như thế. Thế nhưng con người cũng không nhanh chóng bỏ qua khả năng này. Đến nay, 4183 website về Trinity đã nở rộ khắp thế giới. Một số website do môn đồ giáo phái New Age, những người quảng cáo tính thần thánh của cỗ máy này điều hành, số khác do những người theo trào lưu chính thống quản lý, nhóm này liệt kê hàng loạt “bằng chứng” chứng minh rằng Trinity là kẻ Phản Cơ Đốc mà sách Khải huyền đã tiên đoán. Cũng có nhiều website thuần túy kỹ thuật: chúng theo dấu các bước đi của Trinity qua mạng máy tính trên khắp thế giới, lập bản đồ các hành động của trí thông minh siêu nhân loại đầu tiên trên hành tinh này. Bản thân Trinity cũng viếng thăm tất cả các website đó, nhưng không để lại ý kiến nào.

Một trong những nỗi lo lớn nhất của Trinity là không tránh khỏi ngày có một máy tính khác cũng dựa trên cơ sở MRI nhảy lên mạng tại một nơi nào đó trên thế giới. Để đề phòng điều ấy xảy ra, Trinity theo dõi tất cả các tín hiệu lưu thông trên toàn cầu. Nhưng cũng như sự phát triển của vũ khí hạt nhân, nếu chỉ dùng các biện pháp thuần túy kỹ thuật thì không thể đảm bảo sự tuân thủ. Bản chất con người là thế, nhất định sẽ có những người chế tạo một Trinity khác. Người ta nói rằng dân Đức – những người có thể đã tiếp cận công nghệ Siêu MRI của Jutta Klein từ trước – đã có một nguyên mẫu vận hành ở viện Max Planck tại Stuttgart, một cỗ máy được cách ly cẩn thận khỏi Internet. Lại có tin đồn rằng người Nhật đang theo đuổi một dự án trên đảo Kyushu. Dường như không thể hiểu nổi tại sao các nước dám làm điều này bất chấp Trinity có thể áp đặt đòn trừng phạt khủng khiếp. Thực tế họ đã tiến xa trên con đường chứng minh cho luận điểm của Peter Godin rằng con người không thể kiểm soát được bản thân với tinh thần trách nhiệm.

Cái viễn cảnh có nhiều máy tính Trinity xung đột với nhau thật khủng khiếp. Người ta vẫn chưa biết những máy tính được đồn đại là đang phát triển ấy dựa trên mẫu thần kinh đàn ông, đàn bà hay hợp nhất. Những trí tuệ của con người đơn lẻ được trang bị một sức mạnh như thế có đủ tiến hóa vượt qua các bản năng còn sót lại để cùng tồn tại trong phạm vi hạn chế của thế giới không? Tôi không phải là người lạc quan. Nhưng có lẽ họ không thừa nhận thế giới là hạn chế. Về mặt lý thuyết, nguồn kiến thức là vô tận. Có lẽ Trinity có thể thật sự chấm dứt được chiến tranh chăng.

Bây giờ tôi xin gửi lại mối lo lắng ấy cho người khác.

Khi người ta hỏi tôi những giấc mơ – hay hoang tưởng – của tôi có thật hay không, tôi trả lời như thế này: tôi không dám chắc, nhưng tôi đã tìm thấy các đầu mối ở nhiều địa điểm khác nhau. Một trong những đầu mối tốt nhất tôi nhận được ở một nguồn tưởng tượng bất ngờ nhất.

Trong vòng ba tháng qua – trong khi tôi viết câu chuyện kể về những trải nghiệm với Trinity của tôi – thì máy tính Trinity ra lệnh kiến tạo một nguyên mẫu Trinity thứ hai dùng để nghiên cứu. Bây giờ nó đứng cạnh vị tiền bối của nó trong nhà Cách ly ở White Sands, cách ly khỏi thế giới bên ngoài nhưng hoạt động hoàn hảo như một thực thể độc lập.

Khi tôi biết việc phát triển chiếc máy tính thứ hai này, tôi viết một e-mail gửi Trinity. Trong bức thư đó, tôi nhấn mạnh rằng không có ai xứng đáng thể nghiệm trạng thái Trinity hơn Andrew Fielding, người đã biến nó thành khả thi.

Nhưng Trinity đã đi trước cả tôi.

Tuần trước, tôi bước qua một vòng người vũ trang đi vào tòa nhà Cách ly, tại đây tôi thấy hai quả cầu carbon đứng bên nhau. Tôi đã vừa kinh hãi vừa mong mỏi ngày này. Sợ hãi vì Andrew Fielding mà tôi sắp gặp chỉ có trí nhớ đến cái ngày ông được Siêu-MRI quét lần đầu tiên – cách đây chín tháng – điều này có nghĩa là tôi sẽ gặp phải tình trạng bối rối có một không hai, là phải thông báo cho một người rằng ông ấy đã bị giết chết. Tuy nhiên ký ức của tôi về Fielding bảo tôi rằng ông sẽ chịu được cú sốc này tốt hơn bất kỳ ai khác.

Tôi đã đúng. Fielding nhắc tôi rằng ông đã có cuộc sống số theo chu kỳ trong máy tính Trinity, thậm chí ông còn suy luận một ngày nào đó – có lẽ một thế kỷ sau chăng – quá trình nghịch đảo của Trinity có thể được hoàn tất: một mẫu thần kinh được lưu trữ dưới dạng số hóa có thể được tải vào bộ não sinh học, hay sóng ướt.

Nhưng điều thực sự vực Fielding dậy là cái tin ông đã đưa được tình yêu của đời mình ra khỏi Trung Hoa và cưới bà. Mẫu thần kinh của ông chỉ nhớ rằng ông vẫn mỏi mòn chờ đợi Lu Li trong vô vọng vì nghĩ bà còn bị kẹt lại ở Bắc Kinh. Tôi kể chuyện Lu Li trốn thoát khỏi những đội do thám của Geli Bauer, cuộc trốn chạy tuy không nhiều kịch tính như cuộc trốn chạy của tôi nhưng lại thành công hơn nhiều. Đêm ấy, chỉ vài giờ sau khi tôi rời khỏi căn nhà của Lu Li, bà đã nhẹ nhàng lẻn ra ngoài cùng với con chó bông mũm mĩm lông xoăn tít, và đi bộ băng qua Chapel Hill. Bà đến nhà một người Hoa có tiệm ăn mà bà cùng Fielding hay ăn tối ở đó. Gia đình này giấu bà trong nhà cho đến khi những vụ việc xung quanh Trinity được giải quyết.

Khi tôi kể với Fielding tôi đã đưa Lu Li từ Bắc Carolina đến, và bà đang đứng chờ ngoài cửa, ông nói cho ông xin mấy phút để chỉnh trang lại trước khi bà đến trước ống kính camera. Lời đề nghị làm tôi sửng sốt, nhưng lúc đó tôi nhận ra một máy tính có thể có “tính người” đến mức nào. Nói chuyện với mẫu thần kinh Peter Godin giống như nói chuyện với máy; nhưng sau đó nói chuyện với Godin thì ông ta vẫn như cũ. Nhưng Andrew Fielding thì lại khác, là một tính cách lập dị có tiếng về trí thông minh và cảm tình nồng hậu. Ngay cả trong giọng tổng hợp của mẫu thần kinh của ông, tôi cũng nghe thấy sự sắc sảo của con người đã lưu lại một poster từ câu lạc bộ Newcastle, nơi ông đã xem Jimi Hendrix chơi năm 1967.

Trong khi Fielding trấn tĩnh lại, chúng tôi điểm lại số phận những người đã cùng chúng tôi làm việc cho Trinity. Zach Levin bị Geli Bauer đâm ngay cạnh cửa nhà Cách ly, nhưng anh đã hồi phục. Bây giờ anh trở lại cương vị trưởng ban nghiên cứu thiết kế cho Siêu máy tính Godin. Skow đã bị NSA thải hồi, nhưng có tin đồn gã đang viết một cuốn tiểu thuyết dựa trên những kinh nghiệm trong cơ quan tình báo siêu mật này. Giống như Skow, Geli Bauer biết quá nhiều về các vấn đề bí mật quốc gia nên không thể đối mặt với một phiên tòa dân sự để trả lời về cái chết của Fielding. Sau những cuộc thẩm vấn mở rộng của NSA và cơ quan mật vụ, Geli lặng lẽ biến mất. Tôi muốn nghĩ rằng tòa án đã tóm được Geli tại một nơi nào đó, nhưng tôi ngờ ả đang làm việc trong phân bộ an ninh thuộc một công ty đa quốc gia nào đó.

Khi Fielding bảo tôi ông đã sẵn sàng gặp Lu Li, tôi nói lời tạm biệt thân ái, rồi quay người dợm bước ra cửa.

“David?” giọng nói tổng hợp vang lên sau lưng tôi.

Tôi dừng lại và nhìn vào quả cầu. “Vâng?”

“Anh có còn bị những hoang tưởng quấy rầy nữa không?”

“Tôi không bị thêm lần nào nữa.”

“Thế còn chứng ngủ rũ?”

“Hết rồi.”

“Thế thì tốt. Anh nói tôi nghe… anh có còn băn khoăn những giấc mơ của anh là thật hay không?”

Tôi ngẫm nghĩ. “Chúng là thật đối với tôi. Đó là tất cả những gì tôi biết.”

“Đó là tất cả những gì anh muốn biết phải không?”

Đây đúng là kiểu Fielding. “Ông có thể nói cho tôi biết nhiều hơn à?”

“Có thể.”

“Được rồi. Vậy ông nói đi.”

“Anh có nhớ giấc mơ đầu tiên cứ trở đi trở lại không. Người đàn ông liệt trong một căn phòng tối đen như mực?”

“Tất nhiên là nhớ.”

“Anh bảo tôi rằng ông ta trông thấy sự ra đời của vũ trụ, Big Bang, một vụ nổ lớn giống như bom khinh khí, dãn ra với tốc độ kinh hoàng, thế chỗ của Chúa.”

“Phải.” Tôi bước vài bước lại gần quả cầu.

“Anh nói anh cảm thấy như đó là một ký ức. Và như thể chính anh nhìn thấy. Nhìn thấy nó như Chúa nhìn thấy nó. “

“Đúng.”

“Nhưng anh đã không nhìn thấy.”

“Ý ông muốn nói gì?”

“Anh đã không nhìn thấy như nó thật sự xảy ra.”

“Tại sao ông biết?”

“Bởi vì trong vòng hai trăm triệu năm đầu tiên sau Big Bang, trong vũ trụ không có ánh sáng.”

Tôi thấy da mình ớn lạnh. “Sao?”

“Hình ảnh quả cầu lửa khổng lồ là một quan niệm sai lầm phổ biến, ngay cả trong những nhà vật lý. Nhưng thuở ban đầu, vũ trụ hầu như gồm toàn nguyên tử hydro, nó hấp thụ hết mọi ánh sáng. Phải mất hai trăm triệu năm mới có một ngôi sao đầu tiên lóe sáng, nhờ có lực hấp dẫn nén hydro lại. Như vậy Big Bang khác rất nhiều so với cái mà anh ‘nhớ’ về nó. Nó là một vụ nổ lớn nhưng… không ai thấy được điều gì. Chắc chắn không phải là một quả cầu lửa hạt nhân.”

Tôi đứng chăm chú nhìn những tia laser màu xanh lóe lên trong quả cầu, một cảm giác tê dại trên các đầu ngón tay.

“Ông đang nói rằng tất cả những gì tôi mơ đều do trí óc của tôi tạo ra?”

“Không. Phần lớn những giấc mơ của anh về vũ trụ là thật. Và phần còn lại cũng có thể là thật. Tôi chỉ vạch ra một sự thật. Một sai biệt nhỏ. Những giấc mơ của một người là việc riêng của anh ta. Tôi rất tin vào những giấc mơ. Chúng đưa tôi đi khá xa trong thế giới thực tại. Cũng như với anh vậy. Chúng đã cứu sống anh. Có lẽ cả hàng triệu mạng người khác. Bởi vậy đừng lo lắng quá nhiều về nó.”

Tôi không biết phải nói sao.

“Tôi tin rằng tôi đã đúng khi nói điều này với anh. Tôi không muốn suốt đời anh sống với phức cảm Jesus. Hãy trở lại làm một bác sĩ. Tiên tri là một công việc cô đơn.”

Levin và đội ngũ của anh chưa tổng hợp được tiếng cười thực, chứ nếu anh làm được, chắc hẳn tôi đã được nghe một tiếng cười khúc khích lúc tôi đi ra.

Ngoài cửa, Lu Li đang đứng đợi. Hôm nay bà mặc bộ quần áo đẹp nhất và đang cười lúng túng. Bà nhìn vào mắt tôi để dò xem có manh mối mơ hồ nào về chuyện đang đợi bà không.

“Ông ấy đã sẵn sàng đón tôi chưa, anh David?”

Tôi gật đầu và mỉm cười. Tiếng Anh của bà đã tiến bộ rất nhiều trong ba tháng qua.

“Ông ấy có… anh biết đấy, có ổn không?” Mắt bà rơm rớm.

“Ông ấy nhớ bà.”

“Tốt. Tôi có chuyện cần nói với ông ấy.” Nụ cười của bà nở rộng. “Một chuyện chắc sẽ làm cho ông ấy rất vui.”

“Chuyện gì vậy?”

Lu Li lắc đầu. “Tôi phải nói với ông ấy trước đã. Rồi mới đến anh.”

Bà đi lướt qua tôi, vào tòa nhà Cách Ly.

Tôi bước ra ngoài ánh nắng sa mạc và nhìn về phía nhà để máy bay làm phòng hành chính. Rachel đang ngồi trên nắp ca pô của chiếc xe Ford mà chúng tôi mới thuê, nàng vận quần jean xanh và áo sơ mi trắng, trông rất giống khi nàng gọi tôi vào cái ngày phòng khám của nàng bị lục soát. Nàng trượt xuống khỏi ca pô và bước lại gần tôi với nụ cười thận trọng.

“Anh ổn chứ?”

Tôi gật đầu. Trí óc tôi vẫn còn vương vấn với những lời lẽ cuối cùng của Fielding. Nếu các giấc mơ của tôi thật sự là hoang tưởng, như Rachel đã luôn khẳng định, thì tôi sẽ có hàng loạt câu hỏi thắc mắc tại sao tôi biết những sự việc nào đó. Nhưng có một điều chắc chắn, tôi có thể quên đi tất cả chuyện đó để tâm hồn mình được thanh thản.

“Anh có chắc không?” Rachel vừa đưa một tay ôm eo tôi vừa hỏi. Nàng luôn thận trọng tránh chỗ vai đau của tôi. “Fielding đã nói gì?”

“Ông ấy bảo anh trở lại hành nghề bác sĩ.”

Nàng cười, đôi mắt đen sẫm của nàng ánh lên trong nắng. “Em đồng ý với ông ấy.” Nàng đưa cánh tay còn lại ôm vòng qua eo tôi, kéo tôi sát lại người nàng. “Dù cho anh cần làm gì cũng vậy. Ý em là thế.”

Tôi nhìn lại nhà Cách ly, rồi hôn lên trán nàng. “Em chính là người anh cần.”


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.